Những vị Hoàng đế Trung Hoa đồng tính

17:28 |
Đồng tính luyến ái là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử nhân loại. Ở Trung Quốc, ngay từ thời thượng cổ Thương Chu cũng đã có những mối tình đồng tính. Đến thời kỳ Xuân Thu, đồng tính luyến ái đã trở nên khá phổ biến. Đời Hán trở đi, những mối tình đồng tính càng không phải là hiếm thấy trong sử sách. Nhưng điều khiến người ta kinh ngạc là mặc dù sở hữu "tam cung lục viện bảy mươi hai phi tần", với những mỹ nữ đẹp nhất đế chế, nhưng không ít những Hoàng đế trong lịch sử phong kiến Trung Quốc lại là những người đồng tính.


Thời Xuân Thu chiến quốc đã có "tình yêu chia đào" của Vệ Linh Công, "mê Long Dương" của Ngụy vương. Đến thời thịnh vượng như triều Hán, những cuộc tình đồng tính của các đế vương càng trở nên không kiêng dè. Theo ghi chép của Sử ký và Hán thư, những bộ sử sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, các hoàng đế triều Tây Hán hầu hết đều có những người tình đồng tính. Chẳng hạn như Văn Đế yêu Đặng Thông, Ai Đế yêu Đổng Hiền, Thành Đế yêu Trương Phóng,… Trong đó mối tình đồng tính của Văn Đế và Ai Đế đã trở thành những câu chuyện bị người đời đàm tiếu. Từ đời Hán về sau, những vị vua đồng tính trong lịch sử Trung Quốc giảm dần nhưng không hoàn toàn hết. Ngay vị vua được coi là "thập toàn", vị đại đế của triều Thanh Càn Long cũng có một mối tình với người đồng giới.

Vệ Linh Công và mối tình "chia đào"

Thời kỳ Xuân Thu, vua nước Vệ là Vệ Linh Công sủng ái một người đàn ông rất tuấn tú tên là Di Tử Hà. Di Tử Hà thông minh, vô cùng khôi ngô tuấn tú, lại là họ hàng thân thích của Tử Lộ, một học trò giỏi của Khổng Tử. Một ngày, Di Tử Hà nhận được tin tức nói rằng mẹ của anh ta lâm trọng bịnh. Di Tử Hà rất lo lắng, không hỏi han gì đã vội lấy xe của Vệ Linh Công ra khỏi cung thăm mẹ. Theo pháp luật của nước Vệ lúc bấy giờ, nếu như lấy trộm xe của vua phải chịu hình phạt chặt chân. Nhưng nghe được tin Di Tử Hà lấy xe của mình đi thăm mẹ, Vệ Linh Công không những không giận mà còn lớn tiếng ca tụng rằng: "Thật là một người hiếu thuận, vì mẹ của mình mà sẵn sàng chịu nguy hiểm như vậy".

Một lần khác, Di Tử Hà theo Vệ Linh Công đi tản bộ trong vườn bông, nhìn thấy một trái đào trên cây đã chín mới thuận tay hái xuống cho vào miệng ăn rất ngon lành. Cắn xong một miếng mới đưa quả đào cho Vệ Linh Công, nói: "Gia thần hiến một quả bích đào, thần nghĩ, hôm này trời vẫn lạnh, cây cỏ vẫn chưa sinh, đây nhất định là đào tiên nên đặc biệt hiến đại vương hưởng thụ". Vệ Linh Công vừa ăn quả đào dở vừa nói: "Khó mà có được tấm lòng trung như ái khanh" . Sau đó rất lâu mọi người cũng đã quên đi việc này, nhưng Vệ Linh Công thì không. Gặp ai Vệ Linh Công đều khoe: "Di Tử Hà rất yêu quý ta, một quả đào ngon cũng không ăn một mình mà chia cho ta ăn chung". Người đời sau vì vậy mà gọi mối tình đồng tính giữa Vệ Linh Công và Di Tử Hà là "mối tình chia đào".

Hoa không thể nở cả trăm ngày, thời gian qua đi, Vệ Linh Công sinh ra chán ghét đối với Di Tử Hà. Có một ngày, trong cung có người nói với Vệ Linh Công rằng: "Thần nằm mơ, mơ thấy một cái bếp, rồi khi đó lại nằm mơ thấy cả người nữa". Vệ Linh Công vô cùng giận dữ: "Ta chỉ nghe thấy khi mơ về quân vương thì mơ thấy Mặt trời, chưa từng nghe nói mơ thấy cái bếp bao giờ". Người kia đáp: "Thái dương chiếu khắp thiên hạ, bất cứ vật gì tồn tại trên mặt đất đều không tránh khỏi ánh sáng của nó. Còn như cái cửa bếp, nếu có một người ngồi tại cửa thì chỉ có một mình người đó được hưởng ánh sáng và hơi ấm mà thôi, còn những người khác muốn có ánh sáng và hơi ấm cũng không được". Lời nói của nho sĩ kia như một mũi tên, Vệ Linh Công cũng vì vậy không thể không biếm trích Di Tử Hà.

Sau đó, Vệ Linh Công lại sủng ái một người thanh niên khác là đại phu Công Tử Triều. Công Tử Triều chỉ vì dung mạo khôi ngô xuất chúng mà được Vệ Linh Công sủng hạnh, có thể tự do ra vào cung cấm. Một người đàn ông đẹp vào hậu cung, đương nhiên gây ra những chuyện phong lưu ầm ĩ. Công Tử Triều đem lòng yêu một người khác giới trong hậu cung của Vệ Linh Công. Nhưng đó lại là vương hậu Nam Tử của Vệ Linh Công. Công Tử Triều và vương hậu Nam Tử tư thông với nhau trong một thời gian dài, vì vậy mới dẫn đến động loạn, Vệ Linh Công trốn khỏi cung cấm. Sau khi Vệ Linh Công dẹp loạn trở về ngôi cao, Công Tử Triều và Nam Tử đã chạy trốn sang nước Tấn. Nhưng Vệ Linh Công vẫn còn yêu mến Công Tử Triều mới lấy cớ là mẫu hậu tưởng nhớ con dâu là nàng Nam Tử, gọi Công Tử Triều về nước Vệ.


Ngụy Vương mê Long Dương Quân

Long Dương Quân là tên một cậu học trò vô cùng khôi ngô tuấn tú. Anh ta được Ngụy vương say mê vô cùng. Có một ngày, Long Dương Quân ngồi câu cá cùng Ngụy vương trên thuyền, Long Dương Quân câu được một lúc mười mấy con cá mà cá đến cắn câu ngày càng nhiều. Nhìn thấy những con cá nhảy tung tăng, Long Dương Quân đột nhiên khóc nức nở. Ngụy Vương cho là có điều phiền muộn, mới hỏi nguyên nhân.
Long Dương Quân đáp rằng: "Thần cảm thấy mình chẳng qua cũng chỉ là vua của loài cá mà thôi". Ngụy vương không hiểu, mới hỏi lý do. Long Dương Quân giải thích cho Ngụy vương rằng: "Khi đại vương câu được con cá lớn, trong lòng sẽ rất vui vẻ. Nhưng lưỡi câu rất nhanh chóng sẽ được thả xuống nước để tìm con cá to hơn, còn con cá vừa câu được sẽ bị bỏ đi mà không được ngó ngàng tới nữa. Thần không dám liên tưởng đến, như nay thần có thể được sự sủng ái của đại vương, có được một địa vị hiển hách trong triều đình, thần dân thấy vậy, đều rất kính trọng thần, nhưng khắp trời đất này, người dung mạo tuấn tú nhiều không đếm xuể, bên ngoài người ta đồn đại rằng thần sở dĩ được đại vương sủng ái, là vì dung mạo của mình. Thần tự lo lắng rằng mình cũng giống như con cá vừa bị mắc câu, sợ ngày mình bị bỏ đi không còn xa nữa, như vậy thần làm sao mà không khóc được?".

Ngụy vương nghe thấy, bất giác cười lớn: "Sao có những lời nói đồn đại như vậy mà ái khanh không nói cho quả nhân nghe sớm!". Sau đó Ngụy vương ra một sắc lịnh trong cả nước rằng: Từ nay về sau nếu có người bàn luận về việc của Long Dương Quân, nếu bị phát hiện sẽ bị giết mà không cần định tội. Long Dương Quân được nhìn thấy sắc lịnh đó, đương nhiên cười tươi rạng rỡ. Ngụy vương nhìn thấy sủng thần của mình mặt mày tươi tỉnh, lại càng mê đắm hơn. Câu thành ngữ "mê Long Dương" cũng bắt nguồn từ mối tình đồng giới này.

Hán Văn Đế sủng ái Đặng Thông

Mối tình của Hán Văn Đế và Đặng Thông là một ví dụ đặc biệt khác. Trong lịch sử Hán Văn Đế được coi là một vị hoàng đế anh minh và hiếu thuận. Ông là người khai sáng nền chính trị Văn Cảnh, một trong những thời kỳ thịnh trị của triều Hán. Văn Đế nghiêm cẩn và tiết kiệm, một cái áo bị rách cũng quyết không bỏ đi nhưng đối với Đặng Thông, Văn Đế lại có sự sủng ái vô cùng. Trên thân của Đặng Thông, không thể đếm nổi đã tiêu phí bao nhiêu ngọc vàng châu báu. Họ không những đi đâu cũng có nhau, đêm còn ngủ cùng giường. Nhờ sự giúp đỡ của Văn Đế, Đặng Thông trở thành kẻ giàu có nhất thiên hạ nhưng cuối cùng lại bị bỏ đói mà chết.

Ban đầu, Đặng Thông là phu thuyền, mỗi khi anh ta chèo thuyền ra ngoài, thường cắm một lá cờ vàng ở mui thuyền vì vậy mọi người mới gọi là Hoàng đầu lang (anh chàng đầu vàng). Bởi vì Đặng Thông rất giỏi chèo thuyền nên mới được triệu vào cung làm thủy thủ cho ngự thuyền của Hán Văn Đế.

Một đêm, Hán Văn Đế nằm mơ thấy mình đang lên trời nhưng dùng sức của 9 trâu và hai hổ mà vẫn không thể tiếp cận được Nam Thiên Môn nên cuối cùng vẫn không thể vào được cửa Trời. Đúng lúc đó có một người đầu quấn khăn vàng đứng sau lưng đẩy Văn Đế, mới giúp Văn Đế lên được thiên giới. Văn Đế quay đầu nhìn lại người đã đẩy mình, chỉ nhìn thấy quần áo người đó được buộc quấn lại phía sau lưng. Văn Đế đang muốn gọi anh ta trở lại thì bị tiếng gà gáy đánh thức.
Ngày hôm sau, Hán Văn Đế đi chơi Tây Cung nhìn thấy một người thủy thủ trên thuyền ngự đầu quấn khăn vàng, đai áo được buộc ra phía sau lưng, giống hệt như người Văn Đế thấy trong giấc mơ hôm trước. Gọi tới hỏi mới biết người đó tên là Đặng Thông. Văn Đế nghĩ, hắn đã có khả năng đẩy ta lên trời, hẳn là có kỳ tài. Mà họ Đặng và "đăng" (bước lên) là đồng âm, Đặng Thông cũng có thể là "đăng thông" (chỉ việc lên trời trót lọt, dễ dàng), nên Văn Đế cho rằng người giúp ông lên Trời trong giấc mơ không ai khác chính là Đặng Thông. Vì đắc ý việc mình đã phát hiện ra Đặng Thông nên Văn Đế cực kỳ sủng ái ông ta.

Đặng Thông cũng là người trung thực, cẩn trọng nên ít quan hệ giao vãng với những người ngoài. Văn Đế nhiều lần thưởng cho Đặng Thông vàng bạc, còn phong cho ông ta chức đại phu trong triều. Kỳ thực Đặng Thông ngoài việc chèo thuyền ra đâu biết làm gì khác. Nhưng mà ông ta hành xử vô cùng cẩn trọng, tuy không biết thế nào là tiến cử hiền sĩ nhưng lại rất giỏi trong việc nịnh bợ Văn Đế. Bởi vì nhận được sự sủng ái của Văn Đế nên mới được phong chức quan đến đại phu.

Có một lần Văn Đế cử Hứa Phụ một người đương thời rất nổi tiếng về việc đoán số đến gặp Đặng Thông. Sau khi Hứa Phụ gặp Đặng Thông về nói với Văn Đế rằng: "Đặng Thông sau này sẽ bị lạnh bị đói mà chết". Văn Đế nghe xong rất không vui nói: "Có thể cho Đặng Thông giàu có, hạnh phúc hay khốn cùng chỉ có một mình ta. Chẳng lẽ lại chính ta cho ông ta sự khốn cùng đó hay sao?". Vì vậy, Văn Đế ra lịnh lấy một núi đồng ở Nghiêm Đạo quận Thục ban thưởng cho Đặng Thông, còn cho phép ông ta tự mình đúc lấy tiền đồng để tiêu xài. Từ đó Đặng Thông trở nên phát tài, tiền đồng do ông ta tạo ra được xài khắp thiên hạ. Câu thành ngữ "tiền họ Đặng" rất quen thuộc của người Trung Quốc cũng do đó mà được lưu truyền.

Đặng Thông đối với sự yêu thích của Văn Đế cũng rất lấy làm cảm kích, cũng muốn báo đáp Văn Đế. Sau đó, có một lần trên lưng của Văn Đế đột nhiên xuất hiện một mụt nhọt, máu mủ chảy ra không ngừng. Đặng Thông cảm thấy rằng cơ hội để mình bày tỏ sự hiếu thuận với Hoàng Đế đã đến nên ngày ngày vào cung, tự thân mình ngồi bên hoàng đế hầu bịnh hỏi thuốc, vô cùng ân cần. Thậm chí để giảm đau đớn cho Văn Đế, Đặng Thông không quan tâm đến sự tanh hôi đã dùng miệng hút máu mủ ra ngoài. Văn Đế vì sự ân cần này của Đặng Thông mà vô cùng cảm động. Có một ngày sau khi Đặng Thông hút xong máu mủ ở vết thương, Văn Đế mới hỏi Đặng Thông rằng: "Thiên hạ ai là người yêu ta nhất?". Đặng Thông ngoan ngoãn đáp rằng: "Phải nói là không có ai yêu bệ hạ được bằng thái tử". Văn Đế nghe xong không đáp lại lời nào.

Có một lần thái tử Lưu Khải, con của Văn Đế vào thăm bịnh tình của vua cha. Văn Đế muốn thử lòng hiếu thuận của con, Văn Đế nhờ Lưu Khải hút mủ trong nhọt của mình. Thải tử nhìn thấy máu mủ ở miệng nhọt, tanh hôi khó chịu sợ ghê người nhưng không dám kháng mệnh chỉ còn biết cách cắn răng mà hút nhưng vẻ mặt vô cùng khó coi. Văn Đế nhìn thấy tình cảnh đó không kìm được lòng mà than rằng: "Đặng Thông còn yêu ta hơn cả thái tử". Lúc ấy thái tử mới biết chuyện Đặng Thông hàng ngày hút máu mủ ở nhọt cho Văn Đế, trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn nhưng cũng vì vậy mà ông ta đem lòng hận Đặng Thông.

Sau khi Văn Đế chết, Lưu Khải lên ngôi vua, sử sách gọi là Hán Cảnh Đế. Sau khi Cảnh Đế lên ngôi liền bãi miễn chức quan của Đặng Thông cho ông ta về quê hưởng tuổi già. Không lâu sau có người cáo giác Đặng Thông tổ chức đúc tiền trộm ở bên ngoài. Cảnh Đế phái người điều tra kết quả phát hiện đó là sự thực bèn ra lịnh tịch thu toàn bộ gia sản của Đặng Thông. Đặng Thông biến thành kẻ nghèo nàn còn bị nợ mất trăm vạn.

Trưởng công chúa, chị của Cảnh Đế, nhớ lại di ngôn của Văn Đế không để cho ông ta chết đói bèn chu cấp cho ông ta một ít tiền. Nhưng các quan chức dùng số tiền được ban thưởng này để gán nợ nên tiền ban thưởng đều không đến được chỗ của Đặng Thông. Sau đó trưởng công chúa biết được mới sai thủ hạ mang cho Đặng Thông một ít quần áo và lương thực nhưng cũng bị các quan chức tịch thu mất. Cứ như vậy, người từng giàu có nhất thiên hạ Đặng Thông cuối cùng lại chết đói.


Hán Ai Đế cắt áo vì người yêu

Đổng Hiền là nhân vật chính trong câu chuyện "tình yêu cắt áo" của Hán Ai Đế rất nổi tiếng. Ai Đế vì Đổng Hiền đã cam tâm tình nguyện bỏ đi không ít những người đẹp trong hoàng cung để sủng ái một mình ông ta, thậm chí còn muốn đem giang sơn nhường lại cho ông ta. Mối tình giữa họ trở thành hình mẫu cho những người đồng tính luyến ái ở đời sau.

Đổng Hiền tự là Thánh Khanh người vùng Vân Dương. Cha là Đổng Cung từng làm đến chức ngự sử. Vào thời đó, Đổng Hiền còn là một người hầu bên cạnh thái tử. Ban đầu, Đổng Hiền không được chú ý nhiều. Cho đến một hôm, Đổng Hiền đang làm việc trong cung, đúng lúc dừng lại ở trước điện thì Ai Đế, khi đó đã là hoàng đế nhìn thấy. Chỉ nhìn một cái, Ai Đế đã phát hiện, dường như mấy năm không gặp vì Đổng Hiền đã trưởng thành và tuấn tú hẳn lên và đem so với những cung nữ phấn sáp trong lục viện anh ta còn kiều diễm hơn. Ai Đế không cầm được sự vui mừng lịnh cho Đổng Hiền theo sau mình hầu hạ. Từ đó Ai Đế đối với Đổng Hiền ngày càng sủng ái hơn. Ngồi cùng xe, ngủ cùng giường, làm gì cũng không rời xa Đổng Hiền. Ông ta còn phong cho Đổng Hiền làm Hoàng Môn Lang, bắt Đổng Hiền lúc nào cũng phải ở bên cạnh mình. Cha của Đổng Hiền là Đổng Cung cũng được thăng lên Bá Lăng Lịnh rồi Quang Lộc đại phu.

Theo sử sách còn ghi chép lại, Đổng Hiền không chỉ có khuôn mặt giống mỹ nữ mà từ ngôn ngữ cử chỉ đều giống phụ nữ, "tính tình dịu dàng", "giỏi quyến rũ". Vì vậy Ai Đế ngày càng súng ái Đổng Hiền hơn. Có một lần ngủ trưa, Đổng Hiền gối lên cánh tay áo của Ai Đế mà ngủ. Ai Đế muốn quay người nhưng cũng không muốn làm tỉnh giấc của Đổng Hiền nên lấy kiếm cắt đứt cánh tay áo của mình. Người đời sau gọi mối tình đồng tính là "mối tình cắt tay áo" cũng là có nguồn gốc là điển cố này.

Sau sự kiện đó, Đổng Hiền biết rằng hoàng đế có lòng yêu thương mình thật sự nên vô cùng cảm động. Nhưng để tránh những sự việc như vậy tái diễn, ông ta tổ chức một cuộc cải cách y phục trong hoàng cung. Ông ta là người đi đầu trong việc mặc loại y phục tay bó tà ngắn, vừa hoạt động thuận lợi, dễ dàng không giống tập quán trang phục của triều Hán về trước, lấy việc mặc áo lót rộng và ống tay dài làm đẹp. Cách cải cách này của Đổng Hiền trở thành một trào lưu trong hoàng cung. Các cung nữ phi tần đều tranh nhau học theo cách mặc của ông ta, cắt ống tay áo mặc một bộ đồ giản tiện và cho đó là mốt thời thượng.

Để biểu hiện sự sủng ái của mình đối với Đổng Hiền, Ai Đế còn phong Đổng Cung là đại thần là một chức quan chuyên lo gỗ đá cho các công trình xây dựng. Ai Đế còn lịnh cho Đổng Cung xây dựng cho Đổng Hiền một tư dinh mới thật tráng lệ, quy mô vượt hơn hẳn các vị đại thần. Những ngọc lạ châu quý trong cung đều để cho Đổng Hiền tự chọn lấy, thậm chí nhiều đồ dùng của vua như giày, quần áo và xe ngựa đều dùng chung với Đổng Hiền. Vợ và em của Đổng Hiền nhiều lần được ban thưởng mà không rõ lý do vì sao.

Ân sủng trong nội cung còn chưa đủ, Ai Đế còn muốn người được mình yêu thương có một địa vị đứng đầu trong triều chính. Ai Đế muốn phong Đổng Hiền tước hầu nhưng mãi vẫn chưa tìm được cơ hội thích hợp. Sau đó vừa lúc thừa tướng Vương Gia chết, trong triều giảm đi một thế lực phản đối Đổng Hiền, Ai Đế đã bãi miễn chức Đại tư mã đang do một người họ ngoại đảm nhiệm, phong cho Đổng Hiền chức Đại tư mã. Đây là chức quan cao nhất trong triều đình nhà Hán.

Đổng Hiền mới bước vào tuổi 22 mà đã đạt đến chức vị đó, quyền lực rất lớn, cơ hồ đã có thể chia đôi thiên hạ cùng với hoàng đế. Theo sử sách còn ghi chép lại thời đó có một vua của Hung Nô đến Trung Quốc để triều kiến hoàng đế triều Hán. Ông ta thấy người giữ chức Đại tư mã quyền lực nhất triều lại là một thiếu niên mỹ mạo tuấn tú, bất giác cảm thấy kinh hãi vô cùng. Khi ông ta hỏi dò, hoàng đế mới đáp rằng: "Tuy Đại tư mã tuổi còn rất trẻ nhưng là người hiền đức nhất nước này. Vì tài năng mới được thăng chức vị cao như vậy". Kết quả là, Thiền Vu của Hung Nô tin đó là sự thật mới kính cẩn hướng về phía Đổng Hiền hành đại lễ còn chúc mừng hoàng đế triều Hán có được một hiền thần tuổi rất trẻ như Đổng Hiền.

Sau đó, tình yêu của Ai Đế tựa hồ như không còn biết làm thế nào để tỏ sự sủng hạnh đặc biệt của mình đối với Đổng Hiền. Có một ngày, Ai Đế mở yến tại điện Kỳ Lân cùng chư thần, sau khi uống vài chun rượu, đột nhiên Ai Đế nhìn Đổng Hiền bằng đôi mắt đầy thâm tình rồi cười nói rằng: "Trẫm muốn theo vua Nghiêu vua Thuấn thực hiện việc nhường ngôi, liệu có được không?". Ý của câu này chính là Ai Đế muốn học theo cách làm của các vua thời trước lấy ngôi vị của mình nhường lại cho Đổng Hiền. Một câu nói của thiên tử khiến cả triều văn võ bá quan ngỡ ngàng, nói cũng không thành lời.

Đợi khi các đại thần tỉnh lại, một người mới tiến lên phía trước nói: "Thiên hạ này là thiên hạ của Cao hoàng đế chứ không phải là thiên hạ của bệ hạ. Bệ hạ chỉ là người kế thừa lại thiên hạ này của tổ tông mà thôi. Nếu truyền lại ngôi vị thì chỉ có thể truyền lại cho con cháu đời đời mà thôi. Bệ hạ là vua một nước, cần phải biết rằng thiên tử không nói đùa, cho nên ngàn vạn lần không nên nói những lời như vậy!". Ai Đế nghe lời nói này, im lặng không nói thêm lời nào nữa nhưng hiển nhiên là không còn hứng thú gì. Ai Đế ra lịnh đuổi người đó ra khỏi bữa tiệc về sau có mở yến tiệc cũng không cho ông ta tham gia nữa.

Ai Đế khi đó còn rất trẻ nhưng đã sớm nghĩ đến những ngày sau khi mình chết đi sẽ không còn Đổng Hiền nữa, thấy rất thương tâm. Ai Đế bèn lịnh cho các đại thần xây dựng bên cạnh lăng mộ của mình một phần mộ khác để chuẩn bị sau này nếu Đổng Hiền có chết thì sẽ an táng bên cạnh phần mộ của mình. Ý muốn của ông ta là sau khi chết cũng muốn được chôn cùng người yêu của mình, "sống thì cùng giường, chết thì cùng huyệt". Nhưng điều đó là không thể được, ngày họ phải chia tay đã sớm đến. Tháng 6 năm Nguyên Thọ thứ hai, Ai Đế mới chỉ 26 tuổi mắc bạo bịnh mà chết. Thái hoàng thái hậu để cho Vương Mãng làm chủ triều chính. Vương Mãng cực lực phản đối Đổng Hiền, không muốn để cho ông ta tiến cung. Đổng Hiền cũng biết mình gặp đại họa đến nơi rồi, vì vậy ông ta và vợ con cùng tự sát tại nhà để tránh hậu hoạn và cũng là chết để đáp lại mối tình của Ai Đế dành cho mình.


Càn Long và mối tình đồng tính

Hoàng đế nổi tiếng của vương triều Mãn Thanh Càn Long cũng bị nhiều người cho là người đồng tính luyến ái. Câu chuyện bắt đầu từ thời Thanh Thế Tông (Ung Chính hoàng đế). Ung Chính có một phi tử, dung mạo vô cùng kiều diễm. Khi Càn Long 15 tuổi, vào cung lo việc, được ở bên cạnh bà phi này, nhìn phi tử chải đầu, không cầm được lòng mới từ phía sau bịt mắt phi tử này muốn được cùng phi tử chơi đùa.

Phi tử không biết đó là thái tử, bị Càn Long bịt mắt như vậy, vùng một cái rồi thuận tay đánh cái lược chải tóc trên đầu ra phía sau đập trúng ngay mặt của Càn Long. Càn Long bị đau lập tức phải buông tay ra. Ngày thứ hai, Thế Tông phát hiện ra trên mặt Càn Long có một vết trầy đỏ mới hỏi vì sao, Càn Long không dám nói. Sau đó bị quở trách rất nghiêm khắc, Càn Long mới nói ra sự thật. Thái hậu nghe xong lại nghi ngờ rằng người phi tử nọ định đùa giỡn với thái tử, lập tức ban cái chết cho người phi tử dung mạo kiều diễm kia. Càn Long khóc lớn, lấy một ngón tay nhuộm đỏ bôi vào cổ người phi tử kia nói: "Là do ta hại chết nàng, nếu như linh hồn nàng linh thiêng, hai mươi năm sau chúng ta sẽ gặp lại nhau".

Dưới triều đại do Càn Long trị vì, Hòa Thân (xem thêm về người này tại đây) xuất thân từ một trường đào tạo quan chức của Mãn Thanh được vào cung giữ chức Loan Nghi Vệ, công việc là khiêng kiệu. Có một ngày, Càn Long muốn ra ngoài, trong lúc hấp tấp tìm không thấy cái lọng vàng, Càn Long mới hỏi: "Đây là lỗi của ai". Hòa Thân vội vã nói: "Người giữ điển lễ không thể tránh khỏi trách nhiệm". Càn Long theo âm thanh đó mà nhìn, cảm thấy Hòa Thân rất quen như là mình đã gặp qua ở đâu rồi.

Sau khi về cung, nhớ lại những sự việc khi còn nhỏ bất giác cảm thấy Hòa Thân và vị phi tử vì mình mà chết năm xưa dung mạo rất giống nhau. Vì vậy mới bí mật gọi Hòa Thân vào cung, xem kĩ cổ của ông ta phát hiện ra một vết bớt đỏ như hình ngón tay. Càn Long cho rằng trước mắt mình là người phi tử thuở trước đầu thai, từ đó sự sủng hạnh của Càn Long đối với Hòa Thân ngày càng gia tăng. Được sự sủng ái của hoàng đế, hoạn lộ của Hòa Thân lên như diều gặp gió. Từ một người khiêng kiệu ông ta được thăng lên đến chức Tể tướng. Lại thêm bản tính gian ngoa, giỏi vơ vét, Hòa Thân trở thành người giàu có nhất dưới triều Càn Long. Sau khi Càn Long thoái vị nói với Hòa Thân rằng: "Ta và khanh quan hệ không hề bình thường, người đời sau sẽ không tha cho khanh". Quả nhiên sau khi Gia Khánh lên ngôi không lâu đã ra lịnh giết Hòa Thân.

Nguồn
trích từ Hy Văn (Vietimes) dịch từ Mật mã lịch sử 2, tác giả Hà Ức Tôn Kiến Hoa, Nxb 7/2008.
Read more…

Thần thoại Trung Hoa

17:16 |
Trung Hoa có một lịch sử đồng tính dài, nối tiếp và một sưu tập lớn về những ghi chép đồng tính. Đặc biệt thần thoại Trung Hoa khá phong phú trong những giai thoại về đồng tính luyến ái

Cho đến thập niên 1980, Trung Hoa tuyên bố rằng đồng tính luyến ái không tồn tại ở đấy; và nếu có, đó là hậu quả của những người Tây Phương suy đồi đã mang những thói hư tật xấu đến những người vô tội. Quan niệm này ngày nay vẫn được phổ biến ở Trung Hoa.

Tuy nhiên, trên thực tế, Trung Hoa có một lịch sử đồng tính dài, nối tiếp và một sưu tập lớn về những ghi chép đồng tính. Đặc biệt thần thoại Trung Hoa khá phong phú trong những giai thoại về đồng tính luyến ái.


Tôn giáo và đồng tính luyến ái ở Trung Hoa

Khái niệm người Hoa về tính dục được ảnh hưởng bởi các tôn giáo thổ dân, đặc biệt là đạo Lão và Khổng Tử. Sau này, Phật giáo, được truyền bá vào Trung Hoa ở triều đại nhà Hán (206 TCN - 220 SCN), và Thiên Chúa giáo, được giới thiệu đến công chúng và các nhóm văn chương suốt triều đại nhà Minh (1368 SCN - 1644 SCN), cũng đã ảnh hưởng những thái độ người Hoa về tính dục và tính
đạo đức tình dục.

Trong khi ác cảm đồng tính của đạo Thiên Chúa có sự ảnh hưởng quan trọng đến với Trung Hoa cận đại, những câu chuyện Hoa thần thoại phản ánh các quan điểm xưa của người Hoa về đồng tính luyến ái. Những quan điểm này chủ yếu chịu ảnh hưởng của các tôn giáo thời xưa, bao gồm việc thờ phụng súc vật và thiên nhiên, Phật giáo, đạo Lão, và, ở một góc độ nào đó, đạo Khổng Tử.

Hầu hết mỗi triều đại Trung Hoa đều có những giai thoại riêng của nó, những câu chuyện mà không những chỉ nói về các mối tình dị tính phi thường, mà còn về những cuộc tình đồng tính. Các bài viết này bao gồm những câu chuyện về những quan hệ tình dục đồng giới giữa người và hồ ly, heo tinh, hoa tinh, rồng, khỉ, hoặc hồn ma. Trong thần thoại Trung Hoa còn có cả thần tiên đồng tính, chẳng hạn như Thố thần Wu Tien Bao. Còn có những ngôi miếu dựng lên do (phần lớn là người dị tính) các cộng đồng để thờ cúng những cặp đồng tính tuy đã tử vong nhưng được sùng kính.

Trong các đại tác phẩm nổi tiếng của Trung Hoa là những câu chuyện quái dị, từ triều đại Ngụy-Tần (265 SCN - 420 SCN) nổi tiếng nhất là cuốn Soushen ji (Tầm Linh) của Gan Bao. Vài câu chuyện trong này là đồng tính, chẳng hạn như zalu (các chủ đề linh tinh),biji (những bài viết rải rác) của triều nhà Thanh (1644 SCN - 1911 SCN), bao gồm những câu chuyện ma trong Liaozhai zhiji (Liêu Trai Chí Dị) của Bồ Tùng Linh và những chuyện dị giáo của Ji Yun (1724 - 1805) trong cuốn Yuewei caotang biji. Đây là những câu chuyện được biết đến nhiều nhất ở Trung Hoa và hải ngoại.

Các tư tưởng học

Ngược với lối nhìn phổ biến rằng người Hoa là những người khổ hạnh và thủ cựu về chủ đề tình dục, người Hoa thời xưa khá yêu chuộng chuyện chăn gối. Các ghi chép sử xưa từ thời Xuân Thu -- 722 TCN tới 481 TCN -- cho thấy đối với tính dục các vị đế vương thẳng thắn như thế nào. Một hoàng hậu ngay giữa công chúng đã so sánh chiến lược quân sự quốc gia với kỹ thuật chăn gối của bà và hoàng đế. Đối với nhiều đàn ông Trung Hoa, tự do tình dục được thịnh hành mãi cho tới thập niên 1950, khi việc đa thê trở thành bất hợp pháp. Ngay cả những năm ở thập niên 1930, việc một người đàn ông có nhiều thê thiếp (bao gồm tỳ thiếp nam giới) vẫn được xem là chuyện rất bình thường.

Khổng Tử có lần đã nói "Shi se xing ye" (thức ăn và tình dục là những đòi hỏi tự nhiên). Câu phương châm này phản ánh người Hoa xem bản năng sinh dục là sự khao khát tự nhiên của con người mà chúng ta không nên cảm thấy xấu hổ. Triết lý này được thấy trong những quan hệ tình dục từ các câu chuyện thần thoại, mặc dù một vài trong số đó mang tính chất giáo dục.

Từ quan điểm đạo Lão, việc chăn gối là một cách hòa hợp năng lực đất trời, do đó duy trì vòng xoay sinh tạo của thiên nhiên. Chuyện chăn gối, hay còn gọi là "Nghệ thuật Phòng The", không chỉ là nguyên phần đầu của việc tu tâm hay thiền định trong đạo Lão, nó còn được tin là một cách quan trọng để được trường sinh. Do đó, việc linh hồn hay ma quỷ giao hợp dị tính hay đồng tính với đàn ông, hút "tinh khí" của họ để hóa thành người hay được trường sinh là chuyện khá thông thường trong những câu chuyện thần thoại.

Tuy nhiên, quan điểm về bản năng sinh dục của Phật giáo thì lại khác. Họ tin rằng sinh hoạt tình dục (mặc đó là dị tính hay đồng tính) là sự biểu thị của tính tham. Những sinh hoạt như thế ngăn trở con người "thoát" ra khỏi bể khổ của cái tham. Khi rơi vào những tội lỗi như vậy, cá nhân đó cũng bị rơi vào cảnh luân hồi, sau khi cái chết để hóa thân thành người, súc vật, hay hình dạng ma quỷ, và tiếp tục chịu khổ trong kiếp khác. Việc họ có đầu thai làm nam hay nữ, ma hay súc vật, đều tùy vào những gì họ làm ở kiếp trước, một khái niệm được gọi là báo hay ân quả báo ứng, sự thưởng phạt ở kiếp sau.

Người Hoa thời xưa tin vào thế giới thiên đàng gọi là Tiên và thế giới ở dưới, Hoàng Tuyền, nhưng hiển nhiên họ chỉ tưởng tượng chúng ở khái niệm mơ hồ, và do đó dĩ nhiên không bao giờ kiên trì tuân giữ chuyện thưởng phạt. Theo vài ghi chép khác nhau, mỗi con người có hai linh hồn: phách, được cấu tạo khi mang thai, và hồn, kết nối với phách lúc đứa trẻ chào đời. Sau khi chết đi, hồn bay lên Trời, trong khi phách ở lại dưới mộ với cái xác trong vòng ba năm, sau đó mới đi xuống Hoàng Tuyền.

Những câu chuyện thần thoại, bất kể dị tính hay đồng tính, đều biểu hiện những khái niệm của phách và hồn , cũng như lòng tin thời xưa vào chuyện thờ cúng súc vật, sự luân hồi và nghiệp quả trong Phật giáo, và tư tưởng đạo Lão về sức mạnh tình dục (khí, (hay năng lượng chảy trong cơ thể con người). Những câu chuyện đó không chỉ đóng vai trò răn dạy đạo đức Khổng Tử cho công chúng, đặc biệt những người không có học thức, nhưng, khá thú vị, cũng là những "nguyên nhân khoa học" để
giải thích tại sao có những người lại vướng vào quan hệ đồng tính.

Những câu chuyện thần thoại

Trong nhiều câu chuyện thần thoại, linh thể, sau sự chết, được hóa thành một dạng hồn bay bổng như khói trong không trung. Sau đó, tùy những gì họ đã làm trong kiếp trước, họ sẽ luân hồi thành người, nam hay nữ, hoặc thành súc vật, ma quỷ, hoặc cây cối.

Trong những câu chuyện này, ma, cáo tinh trong hình thể nam nhân, hay đơn giản chỉ một người đàn ông có thể giao hợp đồng tính với một người nam giới còn sống khác, chỉ bởi vì người kia ở tiền kiếp là nhân tình nữ giới của người đàn ông này. Để "đi hết" mối quan hệ dị tính trong tiền kiếp, họ có thể làm ra những hành động đồng tính (vì hình thể nam giới của họ trong kiếp này). Một người phụ nữ có thể luân hồi thành đàn ông vì những điều tốt họ đã làm trong tiền kiếp. Nghĩa là, cô ấy có thể được "tưởng thưởng" bằng cách được đầu thai vào thân thể phái nam. Những câu chuyện này phản ánh tư tưởng Khổng Tử về sự trinh tiết của phụ nữ và khái niệm Phật giáo về báo ứng.

Những tình tiết đồng tính như vậy có lẽ sẽ bị Tây phương lên án là tà giáo và vô đạo đức, nhưng người Hoa tin rằng chúng phản ánh đến số mệnh của nhân loài. Tin rằng tất cả sự kiện đều được an bài theo hành vi của con người trong tiền kiếp, người Hoa có xu hướng chấp nhận những sự thật của kiếp này, bao gồm đồng tính luyến ái, là kết quả của những kiếp trước. Sự tin tưởng cổ xưa như vậy có lẽ giải thích vì sao người Hoa ngày nay nói chung ít có ác cảm đồng tính so với người Ki-tô giáo phương Tây.

Điều nữa, là trong những câu chuyện thần thoại Trung Hoa, hồn ma đồng tính không nhất thiết là yêu quỷ. Họ thường có đạo đức hơn cả người thường. Trong vài câu chuyện thần thoại và tiểu thuyết, các sư Phật giáo hay đạo sĩ Lão Tử (bao gồm những người đồng tính) có thể tham ô và xấu xa hơn cả ma tinh. Những tác giả như Bồ Tùng Linh và Ji Yun đã cố phê bình sự bất bình đẳng xã hội về mặt giới tính và giai cấp. Bằng cách viết những câu chuyện thần thoại đồng tính, các tác giả đã nói lên rằng ngay cả ma tinh cũng có "nhân tính" hơn những quan lại tham ô hống hách hoặc những trí thức Khổng Tử tự cho mình là những người "đạo đức".

"Lão Nông Dân và Con Rồng"

Trong các câu chuyện thần thoại là chuyện "Lão Nông Dân và Con Rồng". Trong chuyện này, một người nông dân 60 tuổi tên Ma đang đi tản bộ dọc theo bờ ruộng, thì bỗng nhiên có tiếng sấm và giông tố và bầu trời trở nên xám xịt. Lão cảm giác một vết cào sau lưng và nghĩ đây là điềm dữ từ trên Trời. Cho nên lão bò xuống và nằm bất động.

Tuy nhiên, thay vì là sự thịnh nộ từ Trời, những chuyện thú vị vừa xảy ra là do một con rồng từ trên trời hạ xuống. Thấy Ma nằm bất động, con rồng mới giao hợp đồng tính, trong khi cắn đầu lão. Sau khi con rồng giao hợp xong, nó bay lên trời và gầm lên bằng một tiếng sấm; lão nông dân bị bỏ lại trên mặt đất với thứ chất lỏng hôi hám cả thân người. Mới đầu, lão không dám nói chuyện này với gia đình, cho đến khi bộ phận đằng sau của lão bị đau đến nỗi lão phải tìm đại phu chẩn trị; thì câu chuyện mới bị tiết lộ.

Trong khi hầu hết các súc vật thành tinh trong thần thoại Trung Hoa đều thích quan hệ đồng tính với đàn ông trẻ hơn hay các bé trai, chỉ có con rồng luôn thích quan hệ tình dục với đàn ông lớn tuổi. Con rồng là biểu tượng cho cầu vòng trong văn hóa Trung Hoa thời xưa, chúng thường xuất hiện trong các trận bão tố và sau đó bắt những đàn ông lớn tuổi hơn để giao hợp đồng tính.

"Người Nông Dân và Con Lợn"

Một câu chuyện đồng tính nữa trong thần thoại Trung Hoa là chuyện "Người Nông Dân và Con Lợn". Trong truyện này, có một người nông dân ở vùng Trường Giang quan hệ đồng tính với con lợn thiến. Nhưng hắn lại bán nó cho người hàng thịt. Sau khi bị giết đi, hồn nó không thể nào an giấc. Nó bèn đi gặp Diêm Vương và kiện người nông dân.

Con lợn nói: "Tôi không thể phàn nàn về chuyện bị giết thịt vì mạng tôi đầu thai làm con lợn. Nhưng vì người chủ đã có tình cho tôi, hắn lẽ ra không nên bán tôi cho người hàng thịt để lấy tiền".

Diêm Vương phán con lợn có lý và cho phép nó trả thù. Con lợn cắn hậu môn người nông dân trong mộng. Khi người nông dân tỉnh dậy, hắn cảm giác đằng sau bị ngứa và vật vã cần đàn ông để giao hợp ngõ hầu ngăn được cơn ngứa. Tuy nhiên, khi hắn già đi và không thể thu hút ai để làm việc đó, hắn đành chỉ có thể dùng thân trúc. Ngày nọ, đang lúc say rượu và đằng sau của hắn bắt đầu lại ngứa; hắn tới quán hàng thịt và cầm lên một con dao bén dùng để mổ lợn. Khi hắn dùng con dao để ngưng cơn ngứa, hắn đâm mình và chảy máu cho đến chết.

Câu chuyện minh họa thuyết ân quả trong đạo Phật, cũng như những tin tưởng thời xưa về linh hồn súc vật và quan hệ tình dục giữa người và thú.

"Hồ Ly Tinh và Lão Thư Sinh"

Một câu chuyện nữa là "Hồ Ly Tinh và Lão Thư Sinh". Trong truyện này, một thư sinh già, không hứng thú với phụ nữ, sống một mình trong căn nhà thật lớn. Một đêm, có một người đàn ông bận đồ đen bước vào nhà và xin lão được giao hợp.

Người đàn ông đồ đen thật ra là "chồng" của lão thư sinh và lão lại chính là "vợ" của hắn trong nhiều kiếp trước. Khi đó họ yêu nhau và đã thề sẽ chung tình trong những kiếp sau. Nhưng khi họ thề như vậy thì cũng là lúc giữa thời binh biến, và người vợ xinh đẹp bị phe phản loạn bắt đi. Cuối cùng, cô ta tự vẫn để khỏi bị cưỡng hiếp. Tuy nhiên, người chồng đi theo đám phản loạn và sau đó cũng bị tử trận.

Vì sự trinh tiết của người vợ đã chịu giết mình để giữ nó, cô ta được Diêm Vương cho đầu thai làm đàn ông. Nhưng người chồng đã theo đám phản loạn và không tỏ được sự trung thành với vua, nên đã bị bắt đầu thai làm hồ.

Tuy vậy, con hồ vẫn muốn duy trì quan hệ với người vợ (đã qua đời) thêm một năm nữa. Nên hắn luyện thuật hóa thân và trở thành người đàn ông, điều này cho phép hắn có thể đi tìm vợ ở dương gian. Sau khi lắng nghe người đàn ông bận áo đen (thật ra là con hồ), lão thư sinh mơ hồ nhớ lại chuyện tiền kiếp. Nhưng lão thắc mắc làm sao họ có thể duy trì quan hệ tình dục trong khi cả hai đều là đàn ông.

Con hồ mỉm cười và trả lời: "Đó không nên là một vấn đề, vì chúng ta yêu nhau; nếu chuyện đó là giữa [hai] người đàn ông, hay đàn ông đàn bà đi nữa cũng không sao cả, chúng ta vẫn có thể yêu nhau".

Nghe vậy lão thư sinh đồng ý. Lão cởi y phục và cùng chia sẻ những thời khắc thân mật với người đàn ông hồ. Sau đó cứ cách hai ngày con hồ lại tới. Tuy nhiên, một đêm nọ, con hồ nói với lão thư sinh: "Đây là đêm cuối cùng của hai ta. Ngày mai người hãy xem tình yêu của chúng mình trên một trong những cây cột nhà". Sáng hôm sau, lão thư sinh thức dậy và đi xem thử mấy cây cột: quả nhiên có một cây với 365 dấu răng! Con hồ đã thành công duy trì quan hệ thêm một năm nữa với người vợ trước, bây giờ là đàn ông.

Trong câu chuyện này cái triết lý khá rõ ràng. Tình yêu là tình yêu; nó không là vấn đề nếu đó là giữa hai người đàn ông hay đàn ông đàn bà. Tư tưởng này tiên đoán được bước tiến gần của sự giải phóng đồng tính.

Thố Thần

Cuối cùng là câu chuyện "Thố Thần". Chuyện này nói về một viên quan trẻ rất tuấn tú và thông minh ở tỉnh Phúc Kiến. Sắc đẹp của chàng đã chiếm lấy trái tim một người đàn ông tên Wu Tien Bao, người này đi theo chàng khắp mọi nơi. Mỗi lần viên quan thăng đường, Wu lại có mặt. Dần dà viên quan để ý đến sự hiện diện của hắn, nhưng chàng không rõ vì sao hắn lại theo chàng.

Một hôm, Wu bị bắt quả tang đang nhìn trộm mông viên quan qua vách nhà vệ sinh. Sau mấy vòng bị đánh bằng roi tre, hắn thú thật là mình đã để ý đến viên quan đó. Khi viên quan nghe được sự tình, chàng càng nổi giận và ra lệnh hình phạt nặng hơn và Wu đã chết dưới trọng hình.

Sau cái chết của Wu, hắn nói với người bạn trong mộng rằng "cho dù thật không đúng để nhìn trộm một người đàn ông, việc đó cũng chỉ từ tình yêu và không nên bị xử phạt cho đến chết. Bây giờ phán quan ở âm phủ bổ nhiệm tôi làm Thố Thần để bảo vệ những chuyện tình giữa các người đàn ông, vậy huynh hãy xây một ngôi miếu cho tôi."

Người bạn xây ngôi miếu. Khi có chuyện gây cãi giữa các cặp đồng tính nam hay ai đó bị đau khổ vì tình yêu đồng tính, họ đến ngôi miếu này để phúng điếu Thố Thần, Wu Tien Bao, và thường thường đều được Thố Thần giúp đỡ.

Câu chuyện này có lẽ đã xúc cảm đến công trình xây dựng các ngôi miếu cho Thố Thần, mặc dù không ngôi nào được chỉ nhận một cách chính xác. Tuy nhiên, có một ngôi ở miền nam Trung Hoa gọi là "Đền Hoa Đôi", nơi mà một cặp đồng tính nam đã chết được dân chúng thờ phụng. Ngôi đền bị hủy do quân đội Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến và không còn tồn tại nữa.

Nguồn
Samshasha (Xiaomingxiong)
Vân Nghiên chuyển ngữ
Read more…

Đồng tính luyến ái ở Trung Hoa cổ đại

10:49 |
Sau triều Hán, thái độ chung đã mang tính khoan dung, miễn là người đồng tính ái thực hiện bổn phận làm con của họ bằng cách kết hôn và tiếp tục đời sống gia đình.

Những cứ liệu lịch sử chính thức từ các văn bản cổ cho thấy tình trạng đồng tính ái nam ở Trung Hoa có thể quay về tận thời nhà Thương (thế kỷ 16-11 trước công nguyên). Đó là nhận định của Li Yinhe trong quyển “Lịch sử tính dục đồng giới ở Trung Hoa”.

Young men sipping tea and having sex. Individual panel from a hand scroll on homosexual themes, paint on silk; China, Qing Dynasty (eighteenth to nineteenth centuries)

Từ “Luan Feng” đă được dùng để nói về tính dục đồng giới trong “Sử ký nhà Thương”. Thật thú vị, không có một tài liệu nào ghi nhận về tính dục đồng giới nữ trong lịch sử Trung Hoa.

Con đường lịch sử của tính dục đồng giới nam trải dài từ vương triều này sang vương triều khác, từ thời điểm cổ đại đó, và đã không bao giờ mất đi. Tính dục đồng giới đã có được sự tự do hoàn toàn trong thời Xuân thu Chiến quốc, vào lúc mà Mi Zixia, sủng thần thần vua Wei, và Long Lang, cũng được vua Wei yêu mến, là hai nhân vật được biết đến nhiều nhất.

Nhưng ảnh hưởng và thành quả to lớn nhất lại thuộc về nhà thơ nổi tiếng Qu Yuan. Người ta cho rằng tình yêu ông dành cho vua Chu được lưu lại trong các tác phẩm của ông, chẳng hạn như “Lisao” và “Longing for Beauty” (Khát khao người đẹp) được các hoàng đế khi đó ưu thích.

Li khẳng định rằng ngay trong vương triều Hán hùng mạnh (206 trước công nguyên đến 220 sau công nguyên), tình dục đồng giới của các ông vua và các quan lớn đã thường xuyên được ghi lại trong các tài liệu lịch sử. Theo “Sử ký” và “Sử ký nhà Hán”, hầu hết các ông vua Tây Hán đều có những người yêu cùng phái với mình.

Đã có nhiều câu chuyện được kể lại về ông vua có tên Liu Xin, người đã trị vì trong thời gian năm 6-2 trước công nguyên. Không muốn đánh thức người tình đồng giới, Dong Xian, đang ngủ thiếp trên hoàng bào của mình, Liu đã cắt bỏ hai tay áo để ngồi dậy.

Rất đáng lưu ý là ở Trung Hoa cổ đại, sự điềm tĩnh và bình thản trước hiện tượng tính dục đồng giới là thái độ phổ biến. Không tán dương mà cũng chẳng phê phán. Dường như nó không gây hại gì đến việc duy trì đạo đức gia đình truyền thống.

Nạn mãi dâm nam

Những năm 1573-1620 là thời điểm phồn thịnh nhất của nhà Minh (1368-1644). Với sự phát triển vượt bậc của kỹ nghệ và thương mại, đời sống xa hoa cũng theo đó mà ngày một tăng - theo nhận định của Li. Nạn mãi dâm cũng đă phổ biến vào lúc này, vì quan niệm đạo đức chủ trương chấp nhận những nhu cầu tình dục tự nhiên đă được khuyến khích bởi triết gia tân Khổng giáo, Wang Yangming. Mãi dâm nam (đĩ đực) cũng luôn có sẵn để đáp ứng những đòi hỏi đặt biệt của khách hàng.

Khổng giáo càng được củng cố dưới triều Thanh (1644-1911), bằng việc nhấn mạnh đến sự tuân thủ nghiêm ngặt trật tự xã hội, chẳng hạn, cả vợ và chồng phải luôn luôn ghi nhớ quan hệ đúng mực của họ. Nhưng những người đồng tính ái đă lập tức chống lại những qui định này.

Chiếu chỉ hạn chế

Năm 1740, chiếu chỉ đầu tiên chống lại tính dục đồng giới trong lịch sử Trung Hoa đã được ban hành, xác định rằng sự giao hợp đồng giới tự nguyện của người trưởng thành là phi pháp. Dù không có tài liệu nào ghi lại hiệu lực của chiếu chỉ này, lần đầu tiên tình dục đồng giới đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật ở Trung Hoa.

Trong những năm cách mạng văn hóa (1966-1976), những người đồng tính ái đã phải đối mặt với tình trạng ngược đãi tồi tệ nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nhà nước đã xem đồng tính ái là một sự ô nhục xã hội, hay là một hình thức của bệnh tâm thần. Cảnh sát thường xuyên bố ráp những người đồng tính ái nam, đồng tính ái nữ. Do không có luật chống lại tình dục đồng giới nên những người đồng tính ái nam và nữ bị kết tội côn đồ và gây rối trật tự công cộng, vì lúc này giới đồng tính ái vẫn duy trì những hội kín.

Chấp nhận và khoan dung

Bằng việc thay thế sắc lệnh 1989, trong đó định nghĩa đồng tính ái là “sự rối loạn tâm thần về tình dục”, bằng “Những tiêu chuẩn Trung Quốc trong phân loại và triệu chứng của những rối loạn tâm thần” được Hội tâm thần học Trung Quốc phát hành vào tháng ba năm nay, Trung Quốc đã tiến một bước gần hơn đến những chính sách của WHO, những người đồng tính ái cũng nhận được những thuận lợi mới từ sự nới lỏng chung của những hạn chế xã hội.

Thượng Hải là một trong những thành phố lớn mà những người đồng tính ái nam và nữ có thể sống một cuộc sống cởi mở hơn, một số nhạc sĩ và hoạ sĩ đã công khai là những “gay mở”. Các bar là nơi được ưa thích cho giới gay gặp gỡ nhau vào cuối tuần

Nguồn
Tình dục đồng giới ở Trung Quốc đã có hơn 3000 năm lịch sử
Homosexuality in China
Read more…

Đồng tính luyến ái qua các nền văn hóa cổ đại

06:10 |
Tập quán tình dục thay đổi theo thời gian. Khái niệm "đồng tính luyến ái" hiện đang được hiểu ở các nước Tây phương là một khái niệm mới, không tương ứng với khái niệm trước đây. Trong cuộc đời của nhiều người quan trọng trong lịch sử như Alexandre Đại Đế, Leonardo da Vinci, Michelangelo, Plato, v.v. có thể được xem là có quan hệ tình dục với người cùng phái, nhưng khái niệm "đồng tính luyến ái" hiện đại là một khái niệm họ chưa được biết đến.

CHÂU Á

Tại châu Á việc ái tình đồng tính là một việc hằng ngày từ xưa. Những người Tây phương đến các khu này thường sửng sốt về việc nó được chấp nhận và trưng bày công khai.


Tại Trung Quốc, quan hệ đồng tính được ghi nhận từ năm 600 TCN. Nhiều từ nói trại được dùng để miêu tả việc này. Các mối quan hệ thường giữa những người có tuổi tác và địa vị xã hội khác biệt nhau. Trong quyển Hồng Lâu Mộng, những việc âu yếm và quan hệ tình dục giữa những người đồng giới không gì xa lạ đối với độc giả.

File:Kitagawa Utamaro male escort.jpg
The Poem of the Pillow (Uta Makura), 1788

Tại Nhật Bản, thói quen này được gọi là shudo (chúng đạo) hay nanshoku (男色, nam sắc), đã được ghi lại trong nhiều tài liệu trên một nghìn năm và là một phần quan trọng trong các tu viện đạo Phật cũng như truyền thống samurai. Nền văn hóa ái tình đồng tính này đã dẫn đến một truyền thống hình vẽ và văn chương ghi nhận và ca tụng các quan hệ này. Truyện kể Genji là một trường thiên tiểu thuyết của Murasaki Shikibu (Bà Murasaki- Một nữ sĩ cung đình Nhật Bản) cũng đề cập đến mối quan hệ này.

Tương tự, tại Thái Lan không có khái niệm "đồng tính luyến ái" mãi đến cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội Thái trong nhiều thế kỷ. Họ là những người nam giới ăn mặc quần áo phụ nữ, có thể đã cắt bỏ phần ngoài của bộ phận sinh dục nam. Họ thường được xã hội chấp nhận, không bị phiền toái, tuy nhiên một gia đình có con trai trở thành kathoey thường thất vọng. Quan niệm của đạo Phật trong xã hội Thái chấp nhận một giới tính thứ ba.

Quan hệ đồng tính hiện đang hợp pháp tại Đài Loan, Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan và Campuchia. Tại Singapore, Malaysia, Myanma và Ấn Độ, vì là những cựu thuộc địa của Anh, nó bất hợp pháp.

CHÂU ÂU

Attic red-figure cup by the Euaion Painter, ca. 460–450 BC

Những tài liệu Tây phương lâu đời nhất (trong hình thức mỹ thuật, văn học, và truyền thuyết) về mối quan hệ đồng tính được tìm thấy từ Hy Lạp và La Mã thời thượng cổ, nơi các mối quan hệ đồng tính được xã hội tạo nên, được thành lập qua thời gian từ thành phố này đến thành phố khác. Lệ này, một hệ thống của những mối quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một thanh niên đang trưởng thành, được xem là có giá trị dạy dỗ, đồng thời để kiềm chế mức độ gia tăng dân số, đôi khi bị xem là làm mất trật tự. Plato đã ca ngợi những lợi ích của việc này trong các tác phẩm lúc đầu, nhưng trong các tác phẩm sau này ông đã đề nghị ngăn cấm nó.

"Roman" side of the Warren Cup, with the wreathed "erotic conqueror" and his puer delicatus ("dainty boy")

Trong thời Phục Hưng, những thành phố ở miền bắc nước Ý, đặc biệt là Firenze và Venezia, rất nổi tiếng về việc ái tình đồng tính, được phần đông dân số nam theo và được tạo theo kiểu mẫu ở Hy Lạp và La Mã. (Ruggiero, 1985; Rocke, 1996). Tuy nhiên, trong khi phần đông dân số người nam theo tục lệ này, những nhà chức trách vẫn khởi tố, phạt và bắt bớ nhiều người.

CHÂU MỸ

Detail of Dance to the Berdashe, painted by George Catlin

Trong xã hội thổ dân Bắc Mỹ, hình thức đồng tính luyến ái phổ biến nhất là những người được gọi là "berdache" (người có hai linh hồn). Những người này được hầu hết các bộ lạc công nhận và đặt tên cho vai trò này. Thường những người có hai linh hồn được công nhận lúc còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn để theo con đường này. Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các nhiệm vụ của mình, theo các phong tục của giới tính mà nó đã chọn. Những người này thường làm thầy pháp nhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn các thầy pháp thường. Trong lĩnh vực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những người khác phái.

TRUNG ĐÔNG

Muhammad ibn 'Uthman Adh-Dhahabi's "Al-Kabar" (The Major Sins)

Nhiều nhà thơ Hồi giáo (hầu hết là Sufi) tại các nước Ả Rập và Ba Tư trong thời trung cổ đã viết thơ ca tụng những thằng nhỏ đem rượu cho họ trong các quán rượu và ngủ chung giường với họ. Trong một số nền văn hóa Hồi giáo tục lệ đồng tính luyến ái rất phổ biến (xem Burton, Gide), và vẫn còn tồn tại ngày nay.


Tại Ai Cập, một ngôi mộ chôn 2400 năm trước Công Nguyên của một cặp đồng tính nam, đây được coi là dấu vết đầu tiên về đồng tính được ghi nhận trong lịch sữ nhân loại.

Tại Trung Á, trên Đường tơ lụa, nơi giao điểm giữa hai nền văn hóa đông-tây, đã nảy ra một văn hóa đồng tính luyến ái. Trong đó có người bachá, thường là người tiếp đãi viên đồng thời làm nghề mại dâm thanh niên phái nam ăn mặc lộng lẫy và có trang điểm. Những người bachá hát và múa những bài hát khiêu dâm cho khán giả. Họ được huấn luyện từ còn nhỏ và làm việc cho đến khi râu mọc.

CẬN ĐẠI

Từ năm 1973, các nhà tâm lý học không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần nữa. Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sự hình thành của một nền văn hóa của những người LGBT. Tuy nhiên, cũng có nhiều người LGBTkhông tham gia trong xã hội đó.

Sau khi bị chính quyền Đức quốc xã cố ý tiêu diệt trong Đệ nhị thế chiến, những người đồng tính đã giành được nhiều quyền, đặc biệt là tại các nước Tây phương. Một số quốc gia gần đây đã cho phép người đồng tính có quyền kết hôn cũng như nhận con nuôi. Sự xuất hiện của HIV/AIDS trong giữa thập niên 1980 là một trong những điều mà nhóm người LGBTphải đương đầu trong thời gian gần đây.

Trong lĩnh vực tôn giáo, một số tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với người đồng tính. Một giáo phái Do Thái giáo cũng bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôn cho người đồng tính, trong khi nhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính.
Read more…

Đồng tính luyến ái ở La Mã cổ đại

06:38 |
Ở xã hội La Mã cổ, yêu đương đồng giới nam và đồng giới nữ là việc bình thường và phổ biến, nhất là trong giới thượng lưu. Khác với luật tục Hy Lạp cổ, người La Mã không cấm quý tộc quan hệ đồng giới với nam nô lệ. Vì thế quý tộc La Mã còn mua nam nô lệ để phục vụ nhu cầu tính dục mặc dù họ đang có vợ con. Nhiều quý tộc và hoàng đế La Mã vẫn không thoát ra khỏi xu hướng này. Danh tướng Julius Caesar và hoàng đế Elagabalus là 2 ví dụ điển hình

Attic red-figure cup by the Euaion Painter, ca. 460–450 BC

Trước Công nguyên (TCN), tướng Julius Caesar (năm 100-44 TCN) giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi nền cộng hòa La Mã thành đế quốc La Mã. Đế quốc này mở rộng tới Đại Tây Dương sau khi Caesar xâm chiếm trọn xứ Gaul (nay là phần đất Tây Âu bao gồm Pháp, Bỉ, phía Tây Thụy Sĩ, một phần của Hà Lan và Đức bên bờ Tây sông Rhine). Ông được xem là một trong những thiên tài quân sự, chính trị gia lỗi lạc, và lãnh tụ hùng mạnh nhất của thế giới cổ. Viện Nguyên lão chỉ định ông làm quan chấp chính độc tài mãn đời. Sau khi ông chết 2 năm, Viện Nguyên lão chính thức tuyên bố ông là một trong các vị thần của La Mã. Tuy nhiên, Caesar khá tai tiếng về đời sống tính dục. Các đối thủ chính trị của ông tích cực khai thác nhược điểm này nhằm hạ bệ người hùng lắm tài nhiều tật.

Julius Caesar

Julius Caesar có 3 vợ chính thức. Bà đầu là Cornelia Cinnilla, chết khoảng năm 69 TCN. Vài năm sau ông tục huyền với Pompeia Sulla, một phụ nữ xinh đẹp, quyến rũ, nhưng kém thông minh. Năm 59 TCN, ông cưới Calpurnia Pisonis, không có con với bà, thế nên bà rất căm phẫn khi biết ông có con trai với tình nhân là nữ hoàng Ai Cập Cleopatra (năm 69-30 TCN). Tình nhân thứ hai của Julius Caesar là bà Servilia Caepionis (lớn tuổi hơn Caesar). Sau này con trai của bà ta (tên Brutus) cùng với một số người đã ám sát Caesar (tháng 3-44 TCN) vì sợ ông sẽ lên làm hoàng đế.

Caesar còn có những 'yêu đương' đồng giới nam, một chuyện bình thường và phổ biến trong giới thượng lưu La Mã cổ. Luật tục không cấm quý tộc quan hệ đồng giới với nam nô lệ. Thế nhưng, công luận đả kích nam công dân tự do hứng chịu tư thế thụ động khi chấp nhận cho bạn tình quan hệ qua đường hậu môn (kê giao)! Tư thế thụ động của kẻ ấy được người La Mã giải thích là sự tùng phục, là tự biến mình thành nô lệ của kẻ kia.

Năm 80 TCN, với vai trò sứ thần, Caesar được phái tới xứ Bithynia nằm ở Tây Bắc Tiểu Á. Tại đó Caesar và vua Nicomedes III (năm 128-94 TCN) đã có quan hệ kê giao mà kẻ thụ động dĩ nhiên là Caesar, nhỏ hơn Nicomede 8 tuổi. Thế nên thiên hạ đàm tiếu rằng Caesar chinh phục dân xứ Gaul nhưng Nicomedes lại chinh phục Caesar. Theo sử gia Dio Cassius Cocceianus, (khoảng 165-229), Caesar đã phải thề thốt để bác bỏ dư luận đầy ác ý.

Khi Caesar bị ám sát, điệt tôn của ông là Octavius (năm 63-14 TCN) đang du học ở Apollonia (nay là Albania). Vì không có con hợp pháp, trước đó Caesar đã lập di chúc nhận Octavius làm con nuôi và cho thừa kế chính thức. Octavius mang tên mới là Caesar Augustus, về sau trở thành vị hoàng đế đầu tiên, danh tiếng của La Mã.

Danh tướng kiêm chính trị gia Marcus Antonius-Octavius - (năm 83-30 TCN) vốn là hậu thuẫn quan trọng của Caesar, từng liên minh với Augustus sau khi Caesar chết. Năm 31 TCN, ông bị Augustus đánh bại trong trận thủy chiến ở Actium (Hy Lạp) và ở Alexandria (Ai Cập). Hậu quả, Antonius đành tự sát cùng với vợ là nữ hoàng Cleopatra (năm 30 TCN). Có lẽ do nhiều mâu thuẫn với Augustus, Antonius từng rêu rao rằng Antonius được Caesar chọn làm con nuôi chỉ vì xưa kia chú nhỏ đã có quan hệ kê giao với cha nuôi!

Elagabalus

Trong thời gian trị vì (năm 218-222), Elagabalus lần lượt cưới và ly dị 5 bà vợ. Bất chấp các cấm kỵ về tính dục, Elagabalus từng công khai khoe rằng sở thích tính dục đồng giới nam của ông mãnh liệt hơn các tiên đế, bởi lẽ các tiên đế thỉnh thoảng ngẫu hứng mới yêu đương đồng giới. Sống cùng thời với Elagabalus, sử gia Dio Cassius Cocceianus (khoảng năm 165-229) cho biết, hoàng đế Elagabalus cư xử như phụ nữ (thích trang điểm diêm dúa, thân thể hở hang) và xem Hierocles như là chồng, dù đấy là một nô lệ quê ở Caria thuộc Tiểu Á. Hoàng đế hứa chia nửa đế quốc La Mã cho bất kỳ danh y nào có khả năng biến ông trở thành phụ nữ thực thụ.
Read more…

Cặp đôi đồng tính nam đầu tiên trong lịch sử nhân loại

06:23 |
Các nhà khoa học đã tìm ra bằng chứng lịch sử cho thấy cặp đôi đồng tính nam (gay) đầu tiên được xuất hiện từ năm 2400 trước Công Nguyên. Đó là hai người thợ làm móng tay cho hoàng gia Ai Cập có tên là Niankhkhnum và Khnumhotep. Khi chết, họ đã được chôn cất cùng nhau tại một chỗ như hai vợ chồng.


Khi phát hiện ra ngôi mộ này vào năm 1964, lúc đầu các nhà khoa học đã đặt ra giả thuyết rằng phải chăng đây có phải là anh em sinh đôi được chôn cùng nhau hay không? Họ đã tạm gọi ngôi mộ này là Tomb of Brothers nhưng càng nghiên cứu, họ càng thấy rằng những bức ảnh trong ngôi mộ này (vẽ hai người đàn ông) giống với những bức ảnh vẽ hai vợ chồng hơn là hai anh em.

Điều đáng ngạc nhiên là Niankhkhnum có vợ. Một số hình ảnh về vợ của Niankhkhnum đã được vẽ trên mộ nhưng rồi đã bị xóa đi không rõ lý do và một số bức khác thì Khnumhotep đã được vẽ ở vị trí người vợ. Tên của Niankhkhnum và Khnumhotep cũng được viết cạnh nhau (chữ tượng hình) với ý nghĩa “ở bên nhau cả khi sống lẫn khi chết”.Các nhà khoa học cho rằng đây thực sự là một điều ngạc nhiên và có lẽ là một bí mật hoàng gia được cố gắng giấu kín. Vào thời đó, chỉ có các Pharaon và những người thân trong hoàng gia mới được xây lăng mộ, do vậy chắc chắn Niankhkhnum (và có thể cả Khnumhotep) có quan hệ thân thích với hoàng gia. Cũng theo các nhà khoa học, từ “gay” hay “đồng tính” vào thời đó có lẽ là quá hiện đại (bản thân từ “gay” tới năm 1920 mới bắt đầu mang ý nghĩa quan hệ đồng giới) và các mối quan hệ dạng này không được phổ biến vì không thấy nhắc tới trong lịch sử.
Read more…

Tình dục đồng giới của các Samurai

19:02 |
Quan hệ đồng tính nam giữa các samurai thời xưa chẳng những không bị chỉ trích mà còn được coi là dạng tình yêu thuần khiết và cao quý nhất.

Yukio Mishima - Rite of Love & Death (1966)

Là một trong những nước có ghi chép lịch sử về tình dục đồng giới sớm nhất châu Á, có những giai đoạn, mối quan hệ vô vùng nhạy cảm này rất được ủng hộ tại Nhật Bản. Bởi vậy, quan hệ đồng tính nam của các samurai một thời được coi là dạng tình yêu thuần khiết và cao quý nhất.

Tình dục đồng giới rất phổ biến ở các samurai

Tín ngưỡng bản địa Nhật Bản, đạo Shinto, giữ một ý thức tích cực đối với tình dục, đặc biệt trong việc duy trì nòi giống. Tới tận bây giờ người ta vẫn có thể chứng kiến những ngày hội làng có những dương vật tạc bằng gỗ khổng lồ được đem ra khỏi điện thờ và rước quanh ruộng đồng để cầu xin sự bội thu.

Ở thời điểm này, người Nhật đã rất hứng khởi truyền tay nhau cuốn sách có tên “Hagakure” (hidden leaves), một tác phẩm nói về cách làm tình lý tưởng trong tình yêu nam nam của các samurai thời bấy giờ.

Lịch sử của Nhật còn ghi rõ, ngay từ thế kỷ thứ 16, không ít con em của các samurai được gửi đào tạo trong các tu viện. Ở đó, không chỉ có một tác phẩm như “Hagakure” được ra đời mà một loạt những áng văn thơ bất hủ cũng được thai nghén hình hài, như tuyển tập truyện ngắn “Tấm gương lớn tình yêu nam giới” của Ihara Saikaku, tuyển tập thơ và truyện “Hoa Azeleas dại” của Kitamura Kigin và những sách đạo đức hướng dẫn sử xự trong tình yêu nam giới như tác phẩm “Ghi chép của những người bạn tâm huyết”... Nội dung chính của các tác phẩm này đều là về mối quan hệ đồng tính giữa các samurai.

Trong tác phẩm “Tấm gương lớn tình yêu nam giới”, tác giả Ihara Saikaku có ghi lại: Con trai của một samurai với ý thức lớn lên sẽ nối nghiệp cha đã được đưa vào một học viện để tu học. Tại đây, cậu đã thầm thương trộm nhớ người thầy của mình, cũng là một samurai giải nghệ để đi tu. Chàng thiếu niên 14 tuổi này được miêu tả là đẹp, duyên dáng và quyến rũ như một thiếu nữ xuân thì, trong khi người tình cao tuổi lại được khắc họa với những đường nét gồ ghề, trung thành và dũng cảm.

Sự thương mến của hai con người này được coi là số mệnh bắt nguồn từ duyên nợ của kiếp trước. Tuy nhiên quan hệ này không phải chủ yếu là tình dục, mà gồm cả những yếu tố giáo dục, chỗ dựa trong xã hội và hỗ trợ về tinh thần. Hai người cùng thề tôn trọng lý tưởng samurai. Vị trí samurai được tăng sức mạnh nhờ một quan hệ được lựa chọn kỹ càng”, đó là một đoạn trong tác phẩm.

Trước đó, vào năm 1591, Gaspar Vilela, một người Bồ Đào Nha sau một chuyến công du Nhật Bản đã ghi chép như sau: “Các ông bố là samurai đã giao phó con trai mình cho tu sĩ để được dạy những việc như vậy và đồng thời để thoả mãn dục vọng của họ. Ở nơi đây, hành động này lại được coi là danh giá. Khi người ta nghe tới điều này, họ không hề cảm thấy ghê sợ hay kinh hãi, vì đó đã được coi là một việc hết sức bình thường”.

Chuyện tình mỹ nam samurai

Chuyện tình nam nam của các võ sĩ đạo được ghi chép lại rất nhiều trong lịch sử Nhật Bản. Vào cuối thế kỷ thứ 16, một tình yêu có thể được coi là vĩnh cửu và nổi tiếng nhất trong lịch sử nước này đã xuất hiện giữa hai võ sĩ samuirai dưới chế độ Mạc phủ. Một người tên là Horio Tadaharu và một người tên là Maeda.

Lần đầu gặp mặt của hai võ sĩ nổi danh là ở phủ của một quan lớn. Vẻ đẹp trong trẻo, thanh khiết như nước hồ thu của đệ nhất mỹ nam Horio Tadaharu 16 tuổi đã lập tức làm mê đắm võ sĩ lừng lẫy của triều đình - Maeda, khi đó cũng đã bước vào tuổi 34. Sau đó không lâu, nhờ mai mối, một cuộc gặp đã được lên lịch cho Maeda và Horio Tadaharu .

Trong lần hẹn đầu tiên này, là một người cứng tuổi nên Maeda cảm thấy khá căng thẳng khi đứng trước một mỹ nam có vẻ đẹp thuần khiết và trong sáng như Horio Tadaharu. Giữa một khung cảnh thơ mộng với ánh trăng, vị vương gia do ngại ngùng mà chỉ dám thốt lên: “Đêm nay trăng quá đẹp”. Horio Tadaharu vì không dám từ chối lời mời gặp mặt nên đã viện lý do rằng: “Hôm nay tâm trạng của tôi không được tốt, sẽ làm mất hứng ngắm trăng của ngài. Vậy cho tôi lui trước để ngài tiếp tục thưởng trăng”, nói xong, Horio liền đi mất.

Sự kém nhiệt tình của Horio không làm Maeda bỏ cuộc. Ngày nào Maeda cũng lui qua phủ của Horio để thăm nom và cùng “học hỏi tinh thần samurai”. Mưa dầm thấm lâu, dần dần tình cảm của Horio Tadaharu đã biến chuyển khi chàng mỹ nam này cảm thấy nhớ nhung khi không thấy Maeda qua phủ chơi. Sau vài tháng, mỹ nam Horio Tadaharu quyết định đến phủ của Maeda để tham quan.

Nhận được tin Horio Tadaharu sẽ đến phủ của mình, Maeda vui mừng đến nỗi đứng ngồi không yên. Ông còn yêu cầu người hầu trong 3 ngày phải dựng ngay một lầu ngắm trăng trong phủ để đón tiếp “người thương”. Trong những ngày chờ đợi, ông dường như biến thành con người khác khi bỗng chốc trở nên vui vẻ, hòa nhã, trái ngược hẳn với tính cách dữ dằn, hung bạo trước đó.

Để thử thách tình cảm của Maeda dành cho mình, Horio Tadaharu đã cáo ốm đúng ngày hẹn. Khi nghe tin, Maeda đã bỗng nhiên trở nên thất thần, cơm canh mà nô bộc đưa lên cũng không nuốt nổi. Lúc này, một sứ giả bên phủ của mỹ nam Horio thông báo mời Maeda qua thăm. Không chần chừ, vị võ sĩ lập tức lên ngựa.

Tuy nhiên, nơi Maeda được đưa đến không phải phủ nhà Horio Tadaharu mà là một khu vườn lạ. Ở nơi đây, mỹ nam Horio Tadaharu đã chờ sẵn. Như đất hạn gặp được cơn mưa lớn, Maeda chạy lại ôm chầm lấy Horio Tadaharu và nói những lời tỏ tình có cánh. Từ đó trở đi, nơi nào có hình bóng của Maeda thì nơi đó có sự hiện diện người tình của ông, Horio Tadaharu.

Tại sao quan hệ đồng tính samurai nở rộ?

Ngoài quan niệm thoải mái về tình dục đồng giới, còn một lý do nữa khiến quan hệ đồng tính giữa các samurai nở rộ, đó là họ bị cấm đến các kỹ viện, nơi có những cô kỹ nữ mặt hoa da phấn với những thủ thuật phòng the thuộc hàng siêu đẳng luôn đón chờ.

Vào thời kỳ Edo (từ thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ thứ 19), khi còn có những quan điểm bất nhất về việc cấm các kỹ viện, để sinh tồn, các kỹ nữ đã lập nhóm biểu diễn phục vụ các samurai. Tuy nhiên, đây hoàn toàn là những nhóm hát múa trá hình để che mắt triều đình. Sau những bài múa hát truyền thống, các vũ nữ này sẵn sàng phục vụ tình dục nếu như khách hàng có nhu cầu và có tiền. Tuy nhiên, sang đến thời Mạc phủ, tất cả các nhóm hát đó cũng bị dẹp. Chính vì thế mà tỷ lệ quan hệ đồng tính nam của các samurai tăng lên nhanh chóng.

Cũng ở thời kỳ Edo, mặc dù mang thân phận cao quý nhưng đa phần võ sĩ đạo đều nghèo. Việc có một khối tài sản lớn để lấy vợ là điều dường như không tưởng với nhiều người. Hơn nữa, vì trót mang thân phận vương giả nên các samurai đều phải chọn con gái nhà quyền quý để thành thân, điều rất khó thực hiện nếu nghèo. Để giải tỏa tính dục và những ràng buộc về tâm lý, rất nhiều người trong số này đã chọn con đường quan hệ đồng tính với những người cùng hoàn cảnh.

Về sau, các samurai trẻ thường học hỏi bí quyết quan hệ tình dục từ những samurai lớn tuổi và có kinh nghiệm. Để thực hành, các samurai trẻ sẽ là người yêu của samurai lớn tuổi trong nhiều năm.

Ngoài ra, các diễn viên kabuki (một loại kịch múa truyền thống) là nam giới cũng thường được người giàu có tìm kiếm để hầu hạ và phục vụ tình dục đồng giới. Mà đa phần khách là những người quý tộc.Trong thời kỳ Thế chiến thứ 2, có rất nhiều người lính Nhật quan hệ đồng tính với nhau. Trong quân đội, họ ăn chung, ngủ chung và kể cả tắm chung nên rất khó tránh khỏi những kiểu quan hệ đồng giới.

Nguồn
Read more…